Thứ Năm, 8 tháng 9, 2016

Bia rượu “tàn phá” sức khoẻ người Việt

Một nửa nam giới uống bia rượu vượt ngưỡng

TS Trương Đình Bắc, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, kết quả điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm năm 2015 tại Việt Nam cho thấy tình trạng lạm dụng bia rượu ở người Việt là rất phổ biến.

Một trường hợp ngộ độc rượu cấp cứu tại Trung tâm chống độc (BV Bạch Mai). Ảnh: H.Hải
Một trường hợp ngộ độc rượu cấp cứu tại Trung tâm chống độc (BV Bạch Mai). Ảnh: H.Hải

Theo đó, qua điều tra trên gần 3.900 người Việt từ 18-69 tuổi cho thấy có tới 77,3% số nam giới và 11,0% nữ giới hiện tại đang sử dụng rượu bia (tức là có uống trong vòng 30 ngày qua), tỷ lệ chung cho cả hai giới là 43,8% và có xu hướng tăng theo thời gian.

Ở nhóm nam giới, tỉ lệ bia rượu càng đáng ngại, khi mà có tới 44,2% số nam giới uống rượu bia ở mức nguy hại (trong 30 ngày qua có ít nhất 1 lần uống từ 6 đơn vị cồn trở lên). Con số này ở nữ giới là 1,2%.

Cũng qua điều tra này cho thấy, trong 30 ngày qua, gần một nửa (45%) trong số người đang sử dụng rượu bia đã điều khiển phương tiện cơ giới sau khi uống.

Theo thống kê, mức tiêu thụ rượu bia của người Việt tăng liên tục trong 5 năm qua. Riêng năm 2015 là gần 3,4 tỉ lít bia, tăng hơn 1 tỷ lít so với năm 2010. Cùng với số lượng bia khổng lồ, người Việt cũng uống hơn 342 triệu lít rượu. Độ tuổi sử dụng rượu bia nhiều nhất nằm trong nhóm 18-29.

Trong khi đó, rượu bia khi sử dụng ở mức độ có hại sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật, tử vong trên toàn cầu. Theo các số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, rượu bia là nguyên nhân trực tiếp của ít nhất 30 bệnh và nguyên nhân gián tiếp của 200 loại bệnh tật, chấn thương. Đặc biệt phải kể đến các nguy cơ bệnh tim mạch, tăng huyếp áp, xơ gan, ung thư gan… do rượu bia. Ngoài ra, việc lạm dụng còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ tâm thần.

Theo TS Bắc, khi say rượu, nồng độ cồn trong máu cao sẽ khiến người bệnh có các biểu hiện như hoang tưởng, ảo thị, ảo thính, co giật/động kinh, viêm đa khoa thần kinh… gây nguy hại cho sức khoẻ, dễ gây hấn, đánh nhau, lái xe không an toàn. Nồng độ cồn trong máu quá cao có thể dẫn tới hôn mê và tử vong. Về lâu dài, rượu làm thoái hóa não bộ, gây các biểu hiện như parkinson, rối loạn trí nhớ, rối loạn tâm thần...

Một số liệu của bệnh viện Tâm thần TƯ, tỷ lệ bệnh nhân tâm thần do rượu chiếm từ 5 - 6% tổng số bệnh nhân tâm thần và tỷ lệ này ngày càng có xu hướng gia tăng.

Lo ngại bia rượu người trẻ tuổi

Đặc biệt TS Bắc lo ngại về tình trạng gia tăng bia rượu ở lứa tuổi thanh niên. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, những người trẻ tuổi bắt đầu uống rượu trước tuổi 15 có thể phát sinh các vấn đề về bia rượu cao gấp 5 lần những người đợi đến 21 tuổi mới uống. Những hậu quả đó là: khả năng nghiện rượu cao gấp 4 lần, khả năng tham gia bạo lực cao gấp 6 lần, nguy cơ tai nạn giao thông cao gấp hơn 6 lần, chấn thương gấp gần 5 lần sau uống rượu, bia.

Trong khi đó tại Việt Nam, một cuộc điều tra học sinh lớp 8-12 trên toàn quốc năm 2013 cho thấy: có tới 33% học sinh nam và 18% học sinh nữ đã từng uống ít nhất một đơn vị cồn trong 30 ngày vừa qua, trong số đó: 49% học sinh nam và 38% nữ uống cốc đầu tiên khi chưa đến 14 tuổi, 31% học sinh nam và 15% học sinh nữ đã từng uống đến mức say ít nhất một lần.

Theo bà Phạm Thị Hoàng Anh, Giám đốc tổ chức HealthBridge tại Việt Nam, nguyên nhân của tình trạng gia tang bia rượu ở thanh thiếu niên (và cả người trưởng thành), một phần do tác động của quảng cáo. Một nghiên cứu ở Mỹ trên 1786 học sinh cho thấy, nếu như lớp 6 trẻ có tiếp xúc với quảng cáo rượu bia trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nguy cơ bắt đầu sử dụng rượu bia những học sinh này khi lên lớp 7 sẽ tăng cao so với các học sinh bình thường khác. Mỗi lần tiếp xúc với quảng cáo rượu bia làm tăng 1% lượng tiêu thụ rượu bia.

Trong khi đó tại Việt Nam, Luật Quảng cáo mới dừng lại cấm quảng cáo rượu từ 15 độ trở lên. Bên cạnh đó, còn một số thương hiệu đang được quảng bá với hình ảnh rượu mạnh một cách tinh vi với sự xuất hiện của các ngôi sao thể thao, ca nhạc nổi tiếng. Điều này đang góp phần ảnh hưởng đến mức tiêu thụ rượu bia ở người Việt trẻ.

Chính vì vậy quy định rõ về độ tuổi được phép mua, sử dụng rượu bia và quy định nhằm kiểm soát quảng cáo, khuyến mại rượu bia trên các phương tiện truyền thông đại chúng là các giải pháp vô cùng quan trọng trong công tác phòng, chống tác hại của sử dụng rượu bia đối với thanh thiếu niên Việt Nam.

Tổ chức Y tế thế giới quy định một đơn vị uống chuẩn chứa 10 gam cồn. Một đơn vị uống chuẩn này tương đương với 1 chén rượu mạnh (40 độ, 30ml); 1 ly rượu vang (13,5 độ, 100ml); 1 vại bia hơi (330 ml); 2/3 chai hoặc lon bia (330 ml). WHO cũng khuyến cáo không quá 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nữ. Dùng quá mức này được coi là lạm dụng.

Hồng Hải

Tag :sử dụng rượu bia, uống rượu bia, ngộ độc rượu, người trẻ tuổi, cấm quảng cáo, quảng cáo rượu

Chàng trai 25 tuổi mắc căn bệnh kinh dị "mất" dần nội tạng

Trước đây, Cao Văn Thêm nặng hơn 70 kg. Kể từ ngày lâm bệnh, anh lâm vào tình trạng hôn mê, cân nặng hiện tại chỉ còn hơn 40kg.

Nghe ông Cao Văn Quang (bố anh Thêm) kể, những ngày đầu, anh Thêm thấy đầu gối sưng kèm thêm cơn đau. Gia đình nghĩ vết sưng không đáng lo, sẽ khỏi khi nghỉ ngơi. Đến khi anh Thêm không thể chịu đựng nổi cơn đau thì cả nhà mới đem anh đi khám.

Khám tại bệnh viện tỉnh Thanh Hóa, bác sỹ chẩn đoán anh bị đau khớp, kê thuốc cho uống. Uống thuốc, cơn đau không thuyên giảm, sức khỏe anh Thêm suy sụp. Chứng kiến cơn trai nhăn nhó trong cơn đau, gia đình anh quyết định đưa anh lên Hà Nội khám.

Anh nhập viện trong tình trạng sốc nhiễm khuẩn kèm theo suy gan, suy thận, suy hô hấp nặng, áp xe khớp gối, nhiễm trùng máu, có biểu hiện của suy tim.

Anh Cao Văn Thêm đang nằm tại phòng cấp cứu - khoa truyền nhiễm (ảnh gia đình cung cấp)
Anh Cao Văn Thêm đang nằm tại phòng cấp cứu - khoa truyền nhiễm (ảnh gia đình cung cấp)

Qua nhiều lần lấy máu xét nghiệm, các bác sỹ kết luận anh bị bệnh nhiễm vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây bệnh whitmore. Whitmore là một trong những căn bệnh ít gặp tại Việt Nam.

Theo lời của bác sỹ Ngô Phương Nhung, người điều trị trực tiếp cho anh Thêm, bệnh này rất lâu không xuất hiện tại nước ta, các ca mắc bệnh trước đây nhập viện đều tử vong trong thời gian ngắn.

Triệu chứng thường gặp nhất trong bệnh whitmore là biểu hiện nhiễm trùng ở phổi, phổi có thể hình thành một khoang chứa mủ (áp xe phổi). Bệnh nhân sốt, nhức đầu, chán ăn, ho, đau ngực và đau nhức các cơ bắp.

Từ nơi thâm nhiễm ban đầu, bệnh có thể lan toả từ da vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, tổn thương đa phủ tạng và có nguy cơ tử vong,

Bệnh có thể diễn tiến thành một hình thái melioidosis mạn gây thương tổn đến tim, động mạch chủ bụng, não, gan, thận, khớp, mắt… hoặc gây ổ áp xe lạnh mãn tính ở phổi.

Bác sỹ theo dõi, điều trị (ảnh gia đình cung cấp)
Bác sỹ theo dõi, điều trị (ảnh gia đình cung cấp)

Hiện tại, anh Thêm đang được các bác sỹ theo dõi, điều trị tại phòng cấp cứu, khoa truyền nhiễm – Bệnh viện Bạch Mai. Anh thêm đã truyền thuốc để ngăn sự hoạt động của virus. Được biết, anh là trường hợp đầu tiên điều trị thuốc do các bác sỹ nghiên cứu.

Chi phí điều trị bệnh rất lớn, gia đình anh Thêm sẽ được bệnh viện hỗ rợ một phần chi phí. Ông Cao Văn Quang cho biết: “Các bác sỹ khuyên gia đình vững tâm để chữa trị. Chúng tôi nghe bảo, hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh này khi vào đây đều tử vong sau 2 ngày. Thêm bị virus tấn công phổi, phải dùng máy thở oxy, con tôi đã nằm đây gần một tháng, chúng tôi mong đợi phép màu sẽ đến với gia đình”.

Anh Thêm vừa mới lập gia đình, vợ mang bầu tháng thứ 8. Do tính chất bệnh truyền nhiễm nên chị không được trông nom. Hiện, bố mẹ anh cùng 2 chị gái thay phiên nhau chăm sóc.

Theo Ngọc Thi

Gia đình

Tag :sốc nhiễm khuẩn, suy hô hấp, Nhiễm trùng máu, nhiễm khuẩn huyết, nguy cơ tử vong

Đừng sử dụng bừa bãi những từ như "trầm cảm" và "tự tử"

Nhưng chúng ta không nên sử dụng những cụm từ liên quan đến sức khỏe tâm thần theo những nghĩa bóng như vậy.

Việc sử dụng các thuật ngữ về sức khỏe tâm thần một cách miệt thị hay coi thường có thể gây hại, nó góp phần rất lớn vào sự kỳ thị xung quanh các rối loạn sức khỏe tâm thần.

Sử dụng các tình trạng bệnh, bao gồm các rối loạn sức khỏe tâm thần, không phải là cách ẩn dụ tốt.

Một vấn đề có vẻ nhỏ nhặt như lựa chọn từ ngữ có một phạm vi rộng hơn nhiều: Bệnh tâm thần thường bị xem như là một lỗi lầm cá nhân cần được sửa chữa, chứ không phải là một tình trạng bệnh cần điều trị.

Mọi người vẫn đánh đồng bệnh tâm thần với bạo lực và tội ác. Đó là lý do tại saongười ta thường âm thầm chống đỡ với những rối loạn này. Và cũng là lý do tại sao mọi người lại tùy tiện dùng những từ như "đồ tâm thần" để xúc phạm hoặc để gây ấn tượng.

Cách duy nhất để sửa chữa văn hóa này là trực tiếp xóa bỏ sự kỳ thị. Điều đó sẽ bắt đầu từ những lời mà chúng ta nói ra.

Dưới đây chỉ là một vài ví dụ về những thuật ngữ sức khỏe tâm thần đã ngấm vào ngôn ngữ hàng ngày - và những gì các chuyên gia khuyên chúng ta nên làm:

Lưỡng cực

Theo thuật ngữ y học, rối loạn lưỡng cực là một tình trạng sức khỏe tâm thần đặc trưng bởi những cơn hưng cảm và trầm cảm, là những rối nhiễu tâm trạng trên lâm sàng. Nhưng trong xã hội, từ này thường được dùng để mô tả những người mà tâm trạng thay đổi thất thường.

Rối loạn lưỡng cực ảnh hưởng đến 2,6% số người lớn ở Mỹ. Và bất cứ ai từng trải qua đều có thể xác nhận rằng căn bệnh này không phải là thứ chỉ gây ra sự thay đổi về tình cảm hay thiếu quyết đoán, mà nó còn gây giảm sút đáng kể về giấc ngủ, năng suất và động lực.

Đây là chỗ giáo dục đóng một vai trò. Chúng ta càng hiểu về tác động của một rối loạn nào đó thì nó càng có cơ may trở thành bình thường trong xã hội. Điều đó có nghĩa là hãy nhìn nhận căn bệnh này như chúng ta nhìn nhận bất kì một vấn đề sức khỏe thể chất nào khác.

Chúng ta không kỳ thị những người bị ung thư, bệnh gan, tiểu đường, bệnh tim và chúng ta không nên làm như vậy với những người bị bệnh tâm thần –dù sao đi nữa thì đó là một bệnh của não. Và trên hết, những lời bình phẩm như thế sẽ gây tổn thương và khiến người bệnh không đi tìm sự giúp đỡ.

Điên rồ

"Điên rồ" được cho là một trong những cụm từ được sử dụng rộng rãi nhất. Trong khi ý nghĩa của nó chủ yếu là vô hại, nó có khả năng bắt nguồn từ một điều gì đó mang tính kỳ thị hơn - đặc biệt là khi sử dụng như một sự xúc phạm.

"Những từ như “điên” hay “phát cuồng” là chỉ kém hơn từ “nhạy cảm", Christine Moutier, giám đốc y tế của Quỹ Phòng ngừa tự tử Mỹ cho biết. "Nhưng đó là một thách thức vì một số cụm từ này đã quá quen thuộc trong đời sống hàng ngày đến mức hầu như không ai nhận ra chúng nếu không có người chỉ ra."

Tuy nhiên, bà Moutier tin rằng nó sẽ không luôn hằn sâu như vậy vào ngôn ngữ giao tiếp thông thường. Trong khi bệnh tâm thần bị các thế hệ trước xem là kỳ quặc hoặc thậm chí là tội ác, thì làn sóng ở giới trẻ đang bắt đầu lật lại các khái niệm sức khỏe tâm thần.

"Có sự tiến bộ rất lớn ở thế hệ trẻ hơn khi nói đến không kì thị," bà nói. "Chúng tôi nhận thấy rằng nhiều người trẻ khá cởi mở về các vấn đề sức khỏe tâm thần của họ ... và tôi hy vọng sẽ hình thành xu hướng hưởng ứngtheo cách ủng hộthay vì đến từ sự thờ ơ."

Trầm cảm

Có một hiểu lầm rất phổ biến rằng trầm cảm chỉ đơn giản là từ để biểu thị sự buồn chán. Nhưngcó rất nhiều điều khác nữa xảy ra với tình trạng sức khỏe này - và những người bị bệnh có thể mất hết ý chí khi ai đó sử dụng thuật ngữ "trầm cảm" theo nghĩa bóng.

"Trầm cảm là một trải nghiệm sâu sắc hơn nhiều so với cảm giác buồn chán hay thất vọng," Moutier nói, rối loạn này cũng gây ra những vấn đề về giấc ngủ và các triệu chứng thể chất khác như đau đầu và thay đổi cảm giác thèm ăn. "Vấn đề với việc sử dụng từ này là nó khiến mọi người có ấn tượng rằng bệnh lý tâm thần chỉ là những trục trặc tạm thời chỉ xảy ra trong đầu".

Trầm cảm ảnh hưởng đến 350 triệu người trên toàn cầu và là một trong những nguyên nhân gây mất sức lao động hàng đầu trên thế giới. Đây là một trong những rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến nhất, nhưng nhiều người vẫn không tin rằng nó có thể ảnh hưởng đến họ hoặc gia đình của họ. Đó là lý do tại sao việc sử dụng thuật ngữ này như là một cách để mô tả cảm giác buồn bã lại không được mọi người để ý.

"Cần có sự hiểu biết, cảm thông và ủng hộ sâu sắc hơn," bà nói. "Những cụm từ này chắc chắn đang bị bỏ dần và chỉ cho thấy hầu hết chúng ta không hiểu đầy đủ về rối loạn này".

OCD

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive compulsive disorder – OCD) ảnh hưởng đến khoảng 2,2 triệu người. Đây là một rối loạn dẫn đến suy nghĩ ám ảnh và lo lắng cực độ.

Nhưng trong thuật ngữ tiếng lóng, OCD thường bị gán sai với nghĩa chỉn chu hoặc sạch sẽ. "Nói đùa về việc bị OCD khi ai đó chỉ là kĩ tính về một cái gì đó khiến cho bạn có vẻ không hiểu đầy đủ về rối loạn này," bà Moutier nói.

Như nhà văn Julie Zack Yaste giải thích, mọi người cũng có xu hướng xem những "đặc điểm" bị hiểu lầm của OCD như một cái gì đó thịnh hành hơn là nhìn thấy bản chất của bệnh:

OCD không có nghĩa là khó tính. Nó không có nghĩa là cầu toàn. Nó cũng không có nghĩa là giữ nhà sạch sẽ. Nó có nghĩa là sống một cuộc sống với cảm giác bất thường. Tôi hơi rúm người lại khi nghe ai đó nói: "Tôi quá OCD" đơn giản chỉ vì họ giữ căn bếp sạch bóng không một vết bẩn. Đó không phải là OCD. Có một nghĩa rộng gần như tích cực cho OCD vì nó gắn liền với bị lôi cuốn và sự sạch sẽ.

Điều quan trọng là đừng pha loãng những thuật ngữ này. Và, quan trọng nhất, là đừng điều trị bệnh tâm thần như những “nhãn dán”. Không ai "quá OCD" chỉ vì muốn chắc chắn là mình đã khóa cửa hoặc sắp xếp tủ giày gọn gàng.

"Bạn có thể có OCD, nhưng bạn không phải là OCD," ông nhấn mạnh.

Tự tử

Đây có lẽ là từ khó chịu nhất trong số nhữngthuật ngữ sức khỏe tâm thần bị sử dụng như tiếng lóng.

"Chúng ta phải giúp mọi người hiểu rằng bất cứ lúc nào có ai đó nói gì đó về tự tử, thì thế giới phải dừng lại và chúng ta phải chú ý vào người đó. Ngay ở đó. Ngay lúc đó", ông nói. "Nếu chúng ta nghe thấy điều này và họ nói rằng đó không phải thực sự là điều họ muốn ám chỉ, thì chúng ta cần phải bảo họ đừng nói như thế nữa vì tự tử là nghiêm trọng đến mức mọi chúng ta sẽphải tiếp nhận tất cả những phát ngôn về nó một cách nghiêm túc. Điều này thực sự quan trọng với những người thường tùy tiện đăng lên những bình luận kiểu như “Tôi đi chết đây".

Nhưng không chỉ những bình luận trực tiếp mới có kiểu tác động tiêu cực này. Những sáo ngữ tinh tế cũng có thể vô tìnhám chỉ sự tự tử. Ngay cả những thành ngữ thông tục như “Cứ giết tôi đi” có thể là kỳ thị, cô giải thích.

Cuối cùng, các chuyên gia đều nhất trí rằng có một ranh giới rất khó phân biệt giữa một người sử dụng theo nghĩa bóng và một người đang thực sự bày tỏ dấu hiệu rằng họ có ý định thực hiện một hành động làm hại cho chính mình. Nhưng mọi từ ngữ đều có ý nghĩa và việc hiểu được mức độ nghiêm trọng của các vấn đề sức khỏe tâm thần và thể hiện sự thông cảm với cộng đồng này là rất quan trọng, bất kể đó chỉ là lời nói đùa hay là một cái gì đó nghiêm túc hơn.

Cẩm Tú

Theo Huffingtonpost

Tag :sức khỏe tâm thần, cảm giác thèm ăn, Rối loạn ám ảnh cưỡng chế